1 Giới thiệu về cây Hoàng tinh đỏ

Hoàng tinh đỏ còn có tên gọi khác là Hoàng tinh lá mọc vòng, Củ cơm nếp, mọc ở nơi đất ẩm, nhiều mùn, dưới tán rừng cây lá rộng thường xanh hoặc rừng cây lá rộng trên núi đá vôi ẩm, ở độ cao trên 800m.

Tên khoa học của Hoàng tinh đỏ là Polygonatum kingianum Coll. et Hemsl., thuộc họ Hoàng tinh (Convallariaceae).

Đây là cây thảo sống nhiều năm, cao 1 – 1,5m, đường kính thân khoảng 1,5cm, không lông, rỗng. Thân rễ mập thành củ to, màu trắng ngà, chia đốt, có khi phân nhánh, dài 25 – 35cm, đường kính 5 – 6cm (một gốc có thể được gần 2 kg). Mỗi mấu có 5 – 7 lá mọc vòng, phiến lá hình mũi mác hẹp, dài 10 – 15cm, rộng 12 – 15mm, đầu lá có mũi nhọn dài và quăn lại.

Cụm hoa là xim ngắn ở các mấu, mang 8 – 12 hoa màu hồng hay đỏ, mọc rủ xuống; mỗi cuống xim có 2 hoa hình ống, dài đến 2 cm, bao hoa hình ống dài 1,5cm; nhị 6, chỉ nhị hẹp, dài bằng bao phấn; bầu hình trứng tam giác. Quả mọng, hình trái xoan hay hình cầu, khi chín màu lam tím. Mùa hoa: tháng 3 – 5, quả: tháng 6 – 8.

1.2 Thu hái và chế biến

Bộ phận dùng: Thân rễ, được gọi là Hoàng tinh hoặc Thục hoàng.

Thu hoạch củ vào mùa thu – đông. Sau đó rửa sạch, đồ chín, phơi hoặc sấy khô. Khi dùng đun với nước mật rồi phơi khô. Đồ và phơi 9 lần tới khi có màu đen đều là được, nhằm khử vị ngứa của củ.

Bột Hoàng tinh là gì? Đây là phần thân rễ dạng củ của Hoàng tinh được bào chế thành dạng bột như hình dưới.

1.3 Đặc điểm phân bố

Tại Việt Nam, cây có ở Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Nghệ An. Ngoài ra còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc.

2 Thành phần hóa học

Nhiều loại hợp chất đã được phân lập từ Hoàng tinh đỏ, bao gồm saponin steroid, saponin triterpenoid, homoisoflavanone, Flavonoid, alkaloid, lignin, phenethyl cinnamides, polysaccharide, lectin… Trong số các hợp chất này, các hợp chất hoạt động chính là saponin steroid, saponin triterpenoid, homoisoflavanone, polysaccharide và lectin.

2.1 Saponin

Saponin được đặc trưng bởi một bộ xương có nguồn gốc từ oxidosqualene, bao gồm một nửa đường liên kết với một triterpenoid (30 nguyên tử carbon) hoặc một aglycone steroid (27 nguyên tử carbon). Saponin steroid, bao gồm saponin cholestanol, furostanol và spirostanol, chỉ được tìm thấy trong lớp thực vật hạt kín một lá mầm, và saponin triterpenoid phân bố chủ yếu trong lớp Magnoliopsida.

2.2 Homoisoflavanon

Tính đến tháng 6 năm 2017, tổng số 26 homoisoflavanone đã được phân lập từ loài Hoàng tinh. Các hợp chất này có thể được phân loại thêm là 3-benzyl-4-chromanone (I), 3-benzyl-3-hydroxy-4-chromanone (II) và 3-benzylidene-4-chromanone (III).

2.3 Polysaccharide

Polysaccharide là các polyme của dư lượng monosacarit liên kết với nhau bằng liên kết glycoside. Polysaccharide từ Hoàng tinh bao gồm các tỷ lệ khác nhau của monosacarit, bao gồm rhamnose, mannose, xyloza, arabinose, fucose, galactose, glucose, axit galacturonic và axit glucuronic. Một glucan phân nhánh được phân lập từ Hoàng tinh đỏ.

2.4 Lectin

Lectin là các protein có nguồn gốc không miễn dịch, liên kết thuận nghịch với carbohydrate, làm ngưng kết tế bào hoặc kết tủa polysaccharide và glycoconjugates. Hoàng tinh thuộc họ thảo dược liên quan đến Galanthus nivalis agglutinin (GNA) và là các loại thảo dược liên kết với mannose. Trong số các lectin liên quan đến GNA đã được tinh chế, P. cyrtonema lectin (PCL) là một dimeric; P.odoratum lectin (POL) là một homo-tetramer; lectin P.multiflorum là một tetramer.

3 Cây Hoàng tinh đỏ có tác dụng gì?

3.1 Tác dụng dược lý

3.1.1 Trị tiểu đường

Sau khi cho sử dụng toàn bộ saponin từ Hoàng tinh đỏ trong 56 ngày cho thấy khả năng làm giảm đường huyết rõ rệt ở chuột mắc bệnh tiểu đường do streptozotocin.

3.1.2 Điều hòa rối loạn lipid máu

Cây Hoàng tinh đỏ có thể ức chế sự gia tăng cholesterol toàn phần và triglycerid trong gan, máu do chế độ ăn nhiều chất béo gây ra. Cơ chế tác dụng của nó là nhờ chứa nhiều polysaccharide giúp điều chỉnh các chất chuyển hóa nội sinh trong mẫu máu, nước tiểu và gan. Vì vậy, đây là loại dược liệu có thể trở thành một chất điều hòa lipid để điều trị rối loạn lipid máu và các bệnh liên quan.

3.1.3 Giảm viêm khớp

Chiết xuất củ Hoàng tinh đỏ có tác dụng có lợi trong việc điều hòa cytokine gây viêm và ức chế PGE-2 trong mô hình chuột thí nghiệm bị viêm khớp do kháng thể Collagen. Sàng lọc hóa chất thực vật cho thấy rằng saponin, là thành phần chính, và sterol (daucosterol và 5α,8α-ergosterol peroxide) từ chiết xuất etanol có thể góp phần vào các hoạt động chống viêm in vitro và in vivo đầy hứa hẹn của nó.

3.1.4 Tác dụng bảo vệ gan thận

Hoàng tinh đỏ cho thấy tác dụng bảo vệ đối với gan nhiễm mỡ không do rượu do chế độ ăn nhiều chất béo ở chuột. Cơ chế hoạt động có thể liên quan đến việc loại bỏ sản phẩm gây stress oxy hóa (MDA) và cải thiện hoạt động của enzyme chống oxy hóa (SOD và GSH-PX) trong ty thể của gan, cũng như cải thiện trở ngại chuyển hóa năng lượng.

3.1.5 Chữa lành vết thương

Chiết xuất Hoàng tinh đỏ có thể làm giảm sự xâm nhập của các tế bào viêm và hàm lượng glucose trong mô da ở rìa vết thương, giảm các yếu tố gây viêm trong da và huyết tương, đồng thời tăng sự hình thành mạch, do đó cải thiện tốc độ chữa lành vết thương.