1 Giới thiệu về cây Sa sâm

Sa sâm còn có tên gọi khác là Sa sâm nam, Sa sâm việt, Sâm trường sa, mọc trên cát ở bãi biển, ở nơi nhiều phân chim như các đảo ngoài biển thì mọc rất tốt, nên còn được gọi là Sa sâm biển.

Tên khoa học của Sa sâm là Launaea sarmentosa (Willd.) Sch. – Bip. ex Kuntze, thuộc họ Cúc (Asteraceae). Dưới đây là hình ảnh cây Sa sâm.

1.1 Đặc điểm thực vật

Cây thân thảo sống lâu năm. Gốc rễ hơi dày lên, rễ mảnh, mềm, vàng nhạt. Thân dài 20-30cm, mảnh, mọc bò, đâm rễ và mang hoa ở các đốt và có thể mọc chồi thành cây mới. Lá mọc thành hình hoa thị ở gốc, xẻ thuỳ lông chim, dài 3-8cm, rộng 5-15mm, thuôn hẹp dần ở gốc, đầu tù tròn. Thuỳ tận cùng hình tam giác lớn hơn, các thuỳ bên hình tam giác tù, các thuỳ gốc càng xuống càng hep dần.

Cụm hoa đầu màu vàng mọc ở gốc cây hoặc ở các đốt, thưa, có cuống ngắn, thường mọc đơn độc hoặc thành ngù ít hoa. Lá bắc ngoài không đều, lá bắc trong bằng nhau; mào lông màu trắng, tràng hình lưỡi có ống ngắn, 5 răng nhỏ, nhị 5. Quả bế hình trụ có cạnh, có mào lông dễ rụng. Mùa hoa quả vào tháng 6-12.

1.2 Thu hái và chế biến

Bộ phận dùng: Lá, rễ. Thu hái quanh năm, rửa sạch bằng nước vo gạo, đồ chín rồi phơi khô. Có nơi ngâm với nước phèn chua ⅕ hoặc ⅖, phơi cho se, xông diêm sinh hơn 1 giờ rồi mới phơi khô tạo Sa sâm khô.

1.3 Đặc điểm phân bố

Tại Việt Nam, cây có ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà vào tới Ninh Thuận, Bà Rịa-Vūng Tàu và Kiên Giang. Ngoài ra còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia.

2 Thành phần hóa học

Hiện chưa có nhiều nghiên cứu về thành phần và tác dụng của Sa sâm. Phân tích định tính của bột rễ cho thấy sự hiện diện của các alkaloid, axit amin, carbohydrate, glycoside, tanin và steroid.

Qua khảo sát thành phần hóa học rễ cây Sa sâm thu hái tại biển Cần Giờ, huyện Cần Giờ, TP.HCM đã phân lập được 9 hợp chất gồm α-amyrin acetat, β-amyrin acetat, lupeol acetat, ψ-taraksaterol axetat, luteolin, 4-allyl-2,6-dimethoxyphenol glucopyranoside, scorzoside, ixerisoside D và 9α-hydroxypinoresinol.

3 Sa sâm có tác dụng gì?

3.1 Tác dụng dược lý

3.1.1 Chống viêm, chống oxy hóa

Chiết xuất mehtanol của Sa sâm đã chứng minh hoạt động chống oxy hóa mạnh nhờ sự hiện diện của các thành phần polyphenolic và Flavonoid. Tiền xử lý với chiết xuất ức chế sự bài tiết oxit nitric qua trung gian LPS, các loại oxy phản ứng và yếu tố hoại tử khối u-α cũng như sự biểu hiện của các cytokine gây viêm. Hơn nữa, việc kích hoạt con đường nhân tố-kappa B và con đường phosphoinositide-3-kinase/protein kinase B đã bị chặn bởi chiết xuất bằng cách ức chế quá trình phosphoryl hóa Akt. Ngoài ra, con đường protein kinase được kích hoạt bằng mitogen đã bị ức chế và căng thẳng lưới nội chất bị suy giảm. Cuối cùng, dịch chiết đã thúc đẩy hoạt động của yếu tố 2 liên quan đến hồng cầu, dẫn đến sự điều chỉnh tăng của con đường heme oxygenase-1, dẫn đến việc ức chế stress oxy hóa và phản ứng viêm.

3.1.2 Giảm đau, hạ sốt

Chiết xuất methanol từ Sa sâm thể hiện sự gia tăng đáng kể thời gian phản ứng trong phương pháp quằn quại và cho thấy sự ức chế đau là 63,1% ở liều 400 mg/kg. Trong phương pháp nhúng đuôi, chiết xuất cho thấy thời gian giữ đuôi tối đa là 30 phút trong nước nóng tức là 6,93 giây trong khi pentazocine tiêu chuẩn cho thấy thời gian phản ứng là 7,62 giây.

Tiêm chiết xuất trong phúc mạc cho thấy nhiệt độ cơ thể giảm phụ thuộc vào liều ở sốt gây ra bởi men bia ở chuột; làm giảm đáng kể nhiệt độ cơ thể ở mức 400 mg/kg so với đối chứng.

3.2 Công dụng theo y học cổ truyền

Sa sâm nam có tính mát, vị ngọt, nhạt, hơi đắng, mùi thơm, quy vào kinh phế, có tác dụng bổ mát phổi, chỉ ho, long đờm, lợi sữa, nhuận tràng, lợi tiểu, tăng lực.

Ở Ấn Độ, Sa sâm được thay thế Bồ công anh dùng làm thuốc lợi sữa. Lá trị tạng bạch huyết; rễ phơi khô, sao vàng làm thuốc giải khát, lợi tiêu hóa, tăng lực. Toàn cây nghiền ra trị vết cắn của sứa. Dịch cây đắp trị đau thấp khớp.