1 Giới thiệu về cây Thăng ma

Thăng Ma còn có tên gọi khác là Thăng ma (Bắc), có tên khoa học là Acetaea cimicifuga L., thuộc họ Mao lương (Ranunculaceae).

Thăng ma ở Trung Quốc dùng một số loài cùng chi: Cimicifuga dahurica (Bắc Thăng ma), C.heracleifolia (Thiên Thăng ma) và C.foetida (Tây Thăng ma).

Thăng ma

1.1 Đặc điểm thực vật

Cây thân thảo, sống nhiều năm, cao 1-2m, có lông nhỏ. Thân mọc đứng, phân nhánh nhiều. Lá kép lông chim, mọc so le, lá chét hình trứng hoặc hình mác, mép có răng cưa sâu và nhọn, lá chét tận cùng chia 3 thùy.

Cụm hoa mọc ở ngọn hoặc kẽ lá gần ngọn thành chùy phân nhánh rộng. Hoa gần đều, đường kính 6mm, có 5-7 cánh, màu trắng, xếp lớp, hình trứng, 1 hoặc 2 cánh trong xẻ sâu thành 2 thùy; nhị nhiều, dài hơn lá đài; bầu nhiều noãn. Quả dài 12mm, dẹt, có vòi nhụy tồn tại, hạt 6-8.

1.2 Thu hái và chế biến

Bộ phận dùng: Thân rễ.

Thu hái vào mùa hè thu, phơi khô nửa chừng thì đốt cháy lớp rễ con, rồi phơi cho thật khô.

Mô tả dược liệu: Là những khối dài ngắn khác nhau, phân nhánh nhiều, có nhiều mấu nhỏ. Vỏ ngoài nâu đen hoặc nâu, thô nháp, còn sót lại nhiều rễ nhỏ. Thể chất nhẹ, cứng, khó bẻ. Mặt bẻ sù sì, có xơ, màu vàng lục hoặc vàng nhạt. Mùi nhẹ, vị hơi đắng và chát.

Thăng ma: Công dụng và cách dùng - YouMed

1.3 Đặc điểm phân bố

Cây hiện có ở Trung Quốc, chưa tìm thấy hay nhập trồng ở Việt Nam.

2 Thành phần hóa học

2.1 Triterpenoid

Hầu hết các triterpenoid được phân lập từ Thăng ma là các triterpenoid loại cimigenol và shengmanol:

Loại triterpenoid Hợp chất
Cimigenol Cimiracemoside A & C, Cimigenoside, 25-O-Acetylcimigenol xyloside, Cimicifoetiside B, 25,3′-O-Diacetylcimigenol-3-β-Dxylopyranoside, 25,4′-O-Diacetylcimigenol-3-β-Dxylopyranoside, Cimifoetiside IV, Cimigenol, 25-O-Acetylcimigenol, (23R,24R)-25-O-Acetylcimigenol-3-O-β-D-xylopyranoside, 12β-Hydroxy-7(8)-en-cimigenol, 25-Anhydrocimigenol xyloside, 25-Anhydrocimigenol, 24-epi-Cimigenol-3-one, Cimigenol-3,12-dione, Acerinol, Methyl-3,4-seco-4-hydroxy-3-cimigenolate
Shengmanol Cimicifugoside H1 & H2, 11-Dehydroxy-15-hydroxycimicidanol, Heracleifolinoside B, 2′-O-Acetyl cimiracemoside M…
Cimiracerogenin Cimiracemonol B, Cimyunnin A
Cimifugenin 23-epi-26-Deoxyactein, 26-Deoxyactein, Cimicifugoside, Actein, Yunnanterpene D & E
Foetidinol Cimilactone C
Isodahurinol Cimiracemoside E

2.2 Phenylpropanoids

2.2.1 Phenylpropionic Acid

Một lượng lớn dẫn xuất axit caffeic đã được tìm thấy trong Thăng ma với nhiều loại khác nhau, chẳng hạn như axit hydroxycinnamic bao gồm axit caffeic, axit ferulic và axit isoferulic. Thăng ma là loài thực vật quý hiếm có chứa cả axit ferulic và axit isoferulic. Hơn nữa, axit phenolic, cụ thể là các dẫn xuất của axit fukiic, bao gồm axit cimicifugic A-J, shomasides A-E và cimiracemate A-D, là thành phần hóa học đặc trưng của chi Cimicifuga.

2.2.2 Phenylpropanoid Glycosides

Hai glycoside phenylpropanoid, cimidahurine và cimidahurinine, được phân lập từ thân rễ của Bắc Thăng ma. Glycosyl của chúng lần lượt là hexose galactose và glucose. Ngoài ra, hai glycoside phenolic amide đã biết bao gồm cimicifugamid và isocimicifugamide được lấy từ các loài Thăng ma châu Á.

Trong những năm gần đây, một số phenolic và phenolic amit alloside/glycosides đã được phân lập từ chiết xuất n-BuOH của thân rễ Thiên Thăng ma. Hơn nữa, một phenolic amide glycoside, cụ thể là cimicifugamide A, được phân lập từ thân rễ của Bắc Thăng ma.

Thăng Ma: Đặc Điểm, Tác Dụng Trị Bệnh Và 17 Bài Thuốc Hay

2.2.3 Lignans

Hai lignan đã được tìm thấy trong cây Thăng ma. Actaealactone, một neolignan có nguồn gốc từ C.racemosa. Ngoài ra, (+)- isolariciresinol-3-O-β-D-glucopyranoside cũng được xác định từ thân rễ của Bắc Thăng ma, được báo cáo là thành phần lignan của các cây thuộc chi Cimicifuga.

2.3 Hợp chất chứa nito

Nhiều loại hợp chất amide và alkaloid đã được tìm thấy trong Thăng ma. Đã phân lập được Cimicifine A, một alkaloid triterpene loại cycloartane, từ thân rễ của Tây Thăng ma. Ngoài ra, một số alkaloid loại guanidine đã được xác định từ chiết xuất etanol 75% của rễ/thân rễ Thăng ma, bao gồm cimipronidine, cyclocimipronidine và dopargine cũng như salsolinol, một alkaloid loại tetrahydroisoquinoline.

2.4 Các hợp chất khác

Furan chromone: Cimifugin, visnagin, norkhelloside.

Flavonoid: Isoflavone formononetin.

4α-metyl sterol: Cimisterol A.

Triterpen loại olean: 3β,6β-dihydroxyolean-12-en-27-oic acid, aceriphyllic A.

Monoterpene lactone: Cimicifugolides A-C.

3 Thăng ma có tác dụng gì?

3.1 Tác dụng dược lý

Thăng ma có rất nhiều hoạt động dược lý khác nhau, bao gồm:

  • Điều trị hội chứng mãn kinh: Chiết xuất Thăng ma giúp giảm bớt các triệu chứng trầm cảm ở phụ nữ sau mãn kinh. Có tác dụng tương tự estrogen, làm giảm các triệu chứng như khô mắt và khô miệng ở phụ nữ mãn kinh. Đồng thời cải thiện các triệu chứng mãn kinh tốt tương đương Tibolone.
  • Chống loãng xương: Giúp giảm đáng kể hoạt tính phosphatase kiềm (ALP) trong huyết thanh và mức độ bề mặt nguyên bào xương, cũng như khối lượng xương phân tử được bảo tồn, thể tích xương, chỉ số mô hình cấu trúc và mật độ khoáng xương của siêu hình xương chày gần hoặc siêu hình xương đùi ở chuột bị loãng xương.
  • Chống viêm: Cơ chế là ức chế các yếu tố gây viêm như Interleukin, yếu tố hoại tử khối u TNF-…
  • Chống virus HIV: Bằng cách ức chế sự vận chuyển nucleoside trong quá trình gây bệnh của HIV.
  • Chống khối u: Cimicifuga thể hiện tác dụng gây độc tế bào mạnh trên dòng tế bào ung thư biểu mô cổ tử cung ở người (Hela) và dòng tế bào nguyên bào sợi của chuột. Dịch chiết ngăn chặn hiệu quả sự tăng sinh tế bào của các dòng tế bào ung thư vú MCF-7 và MDA-MB-231 được kích thích bởi Estradiol.
  • Giãn mạch: Cơ chế của nó có thể là do sự ức chế dòng Ca2+ đi vào, được trung gian bởi việc mở các kênh Kali chỉnh lưu bên trong, giúp điều trị các triệu chứng mãn kinh, chẳng hạn như bốc hỏa và tăng huyết áp.
  • Chống tiểu đường: Giúp giảm trọng lượng cơ thể, giảm nồng độ Glucose trong huyết tương, cải thiện chuyển hóa glucose và độ nhạy Insulin.
  • Chống bệnh Alzheimer: Thông qua ức chế acetylcholinesterase, giảm sản xuất amyloid- peptide.

3.2 Công dụng theo y học cổ truyền

Thăng ma có tính bình, vị ngọt cay, hơi đắng, quy vào kinh tỳ, vị, phế, đại trường, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tán phong, thăng dương, làm ra mồ hôi, thúc đẩy sởi mọc.

Trong đông y, Thăng ma được dùng trong chữa đau nhức răng, loét họng, sốt rét, đau đầu, ban sởi, đậu mùa, sa tử cung, băng huyết, bạch đới, trĩ.