Thương lục là gì?

Còn có tên gọi khác là Trưởng bất lão, Kim thất nương.

Tên khoa học là Phytolacca esculenta Van Hout.

Họ Thương lục (Phytolaccaceae).

Thân Thương lục có màu xanh lục hoặc màu đỏ tía
Thân Thương lục có màu xanh lục hoặc màu đỏ tía

Mô tả

Thương lục là một loại cây thân thảo, sống lâu năm. Cao khoảng 0,5 – 1 m. Toàn thân cây nhẵn, hình trụ, không có lông. Thân có màu xanh lục hoặc màu đỏ tía, hơi hóa gỗ ở gốc. Lá đơn, có cuống, mọc so le. Phiến lá hình trứng hoặc hình bầu dục, đầu nhọn, mép lá nguyên. Hai mặt lá nhẵn, gân chính nổi rõ ở mặt dưới. Có rễ củ mập, hình trụ và có nhiều ngấn ngang, hình dạng rất giống Nhân sâm.

Cụm hoa mọc đối diện lá, mọc thành chùm, dài khoảng 15 – 20 cm. Hoa màu trắng pha hồng. Có 3 lá bắc. Bao hoa có 5 phiến bằng nhau, đầu nhọn. Nhị 8 – 19, bầu có 8 – 10 noãn.

Quả mọng, màu xanh, hình cầu dẹt, có 8 – 10 múi gồ lên. Khi chín có màu tím đen hoặc đỏ tía. Hạt có màu đen bóng, hình thận.

 

Quả Thương lục mọng, có 8-9 múi, khi chín màu tím đen
Quả mọng, có 8-9 múi, khi chín màu tím đen

Mùa hoa từ tháng 5 đến tháng 7 và mùa quả từ tháng 8 đến tháng 10.

Phân bố sinh thái

Có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Trung và Nam Mỹ. Loài cây này thấy ở nhiều nước như Pakistan, Ấn Độ, Nepan, Bhutan, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Lào…

Ở Việt Nam, chủ yếu là do di thực. Thương lục xuất hiện ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, ở độ cao 700 – 1600 m. Ví dụ như Sa Pa, Mường Khương (Lào Cai), Kỳ Sơn (Nghệ An), Phong Thổ (Lai Châu), Quan Hóa (Thanh Hóa)…

Là loài cây ưa ẩm, hơi chịu bóng. Mọc ở ven rừng hoặc thung lũng, vùng núi đá vôi. Sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ẩm mát quanh năm. Nhiệt độ trung bình từ 15 – 18oC. Cây ra hoa kết quả hằng năm.

Thành phần hóa học

Trong rễ củ chứa tinh bột, Glucosid, Saponin, Tanin, Triterpen.

Tất cả các bộ phận của dược liệu này chứa một loại chất độc là Phytolaccatoxin.

Tác dụng của Thương lục

Theo y học cổ truyền, Thương lục vị đắng, tính hàn, có độc. Quy kinh Tỳ, Thận, Đại trường, Bàng Quang. Có tác dụng thông đại tiểu tiện, tán kết, trục thủy, tiêu thũng. Chủ trị các chứng phù thũng, trướng thũng, cước khí, mụn nhọt, đầu đinh.

Theo y học hiện đại, dược liệu này có các tác dụng dược lý như sau: Long đàm, chống viêm, kháng khuẩn, lợi tiểu, giảm phù nề, kích thích hệ miễn dịch. Hiện nay người ta sử dụng vị thuốc này để điều trị phù nề, xơ gan cổ trướng hoặc đắp ngoài trị ung nhọt.

Cách sử dụng Thương lục

Bộ phận dùng

Rễ củ.

 

Rễ củ Thương lục
Rễ củ Thương lục hình dạng rất giống Nhân sâm

Thu hái và bào chế Thương lục

Thu hoạch rễ củ vào mùa thu hoặc mùa đông. Sau khi đào lấy rễ, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô trong bóng râm.

Người ta bào chế Thương lục với Cam thảo hoặc giấm để giảm bớt độc tính của nó. Rễ củ đem thái phiến vát dài 3 – 5 cm, dày khoảng 1 – 3 cm. Sau đó ngâm với cam thảo 1 – 2 giờ, ủ mềm 30 phút rồi phơi khô. Hoặc Thương lục đem chích giấm: thái phiến đem trộn đều với giấm, ủ 8 – 10 giờ rồi sao vàng. Hoặc Thương lục nấu giấm: thái phiến đem trộn đều với giấm. Nấu đến khi cạn giấm, đổ ra đem phơi hoặc sấy khô. Có nơi muốn rễ có mùi thơm như Nhân sâm nên ngâm với rượu trắng 40o pha mật ong cho đến khi ngấm đều rồi phơi khô.

Liều dùng của dược liệu Thương lục

3 – 9g.